xã hội hóa giáo dục đại học

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: /BGDĐT-GDTX V/v tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2022 Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Kính gửi: Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tại Hội nghị Khoa giáo toàn quốc năm 1988 được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 20 đến ngày 24-9-1988 và tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 4 đến ngày 8-10-1988, nhiều vấn đề về đổi mới trong các ngành giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao đã được thảo luận sôi nổi Quyển sách tập trung xung quanh hai mặt của giáo dục đã được xã hội học giáo dục coi là cơ bản. Sách có tại Thư viện khu A, phòng mượn Số phân loại: 306.43 K88 22 p hcmute 02/12/2020 160 1 Download. Từ khóa: Giáo dục học, Xã hội hóa giáo dục, Xã hội học. Hoạt động của chúng tôi trong lĩnh vực quốc tế hóa giáo dục đại học bao gồm: Đối thoại chính sách toàn cầu và giáo dục: Chúng tôi giúp các nhà giáo dục từ vương quốc Anh và trên khắp thế giới xác định các chủ đề nòng cốt và các vấn đề để trao đổi và tranh luận. Xã Hội Học Giáo Dục (NXB Đại Học Quốc Gia 2009) - Lê Ngọc Hùng, 342 Trang. Discussion in 'Xã Hội Học' started by admin, Apr 28, 2014. độc lập tự do gắn liền với chủ Iiglũa xã hội thỉ cần phải đầu tư phái triển niạnh giáo dục-dào tạo. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa Các ứng viên phó giáo sư trẻ nhất là Hoàng Thanh Tùng, chuyên ngành sinh học, sinh năm 1989, Viện nghiên cứu khoa học Tây Nguyên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ quốc gia; Ứng viên Đoàn Văn Trường, sinh năm 1989, chuyên ngành xã hội học, Trường ĐH Văn hóa, Thể thao và Du Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd Hỗ Trợ Nợ Xấu. Xã hội hóa giáo dục là gì?Những lợi ích của xã hội hóa giáo dụcXã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nayXã hội hóa giáo dục là một quá trình phải được tiến hành một cách lâu dài. Chúng ta thường xuyên nghe tới “xã hội hóa giáo dục” nhưng ít ai có hiểu biết về xã hội hóa giáo dục. Trong bài viết lần này, chúng tôi sẽ cung cấp tới Quý độc giả một số kiến thức liên quan tới xã hội hóa giáo dục hiện hội hóa giáo dục là gì?Xã hội hóa giáo dục là vận động toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, nhằm phát huy truyền thống hiếu học và tiềm năng con người trong quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của Nhà nước để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức hưởng thụ giáo dục của nhân hội hóa giao dục gồm hai thành phần chính– Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời.– Vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo lợi ích của xã hội hóa giáo dục+ Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược về giáo dục, chỉ đạp quá trình xây dựng và phát triển giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc, có tính cách mạng trong hoạt động thực tiễn, biến hoạt động giáo dục mang tính chuyên biệt chuyên môn và nghiệp vụ trong một lĩnh vực, một thiết chế giáo dục ngành giáo dục, trở thành một hoạt động học tập rộng lớn và sâu sắc bắt rễ vào các lĩnh vực đời sông vật chất, tinh thần của xã hội. Đảm bảo cho giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội.+ Tạo ra một phong trào học tập sâu rộng trong xã hội dưới nhiều hình thức, thực hiện học tập suốt đời để người dân làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho Việt Nam trở thành một xã hội học tập.+ Xã hội hóa giáo dục sẽ phát huy mọi tiềm năng trong xã hội về vật chất, trí tuệ, khoa học kỹ thuật, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục với các mức độ khác nhau giúp giáo dục đạt quy mô rộng, tốc độ lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ giáo dục.+ Thực hiện xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược kinh tế – xã hội của Đảng và nhà nước. Công bằng không chỉ trong việc hưởng thụ người dân được Nhà nước và xã hội chăm lo mà còn trong việc đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người từng địa hội hóa là một quá trình mà cá nhân được hòa nhập vào trong xã hội hoặc vào trong một nhóm người thông qua việc học các quy tắc, giá trị đối với từng nhóm xã hội đó. Xã hội hóa còn được hiểu là quá trình biện chứng, trong đó mỗi thành viên trong nhóm người đều có hành động và duy trì nó để tái xuất xã hội. Hiểu một cách đơn giản theo một cách ngắn gọn thì xã hội hóa là sử dụng các tư liệu sản xuất để trao đổi giá trị thành của công. Ý nghĩa của xã hội hóa là tăng tính cộng đồng, giảm thiểu tối đa chủ nghĩa cá nhân trong các lĩnh vực trong xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nayThứ nhất Cần nhận thức vì sao phải xã hội giáo dục và thế nào là xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nayGiáo dục là hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức, có nội dung, yêu cầu nhằm tạo thế hệ trẻ thành lớp người kế tiếp lực lượng lao động mới có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật, có năng lực đảm đương và hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước trong tương lai. Những hoạt động giáo dục được tiến hành trong điều kiện toàn cầu hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội hóa giáo dục với chúng ta là khái niệm mới, mặc dù đã nhắc đến nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nội hàm của nó còn có những cách hiểu khác nhau. Chính do cách hiểu khác nhau ấy mà có nhiều cách làm khác nhau, dẫn đến những chất lượng, hiệu quả khác hội hóa giáo dục là làm cho các hoạt động mang tính giáo dục của xã hội được huy động vào quá trình giáo dục một cách tích cực, có hiệu quả. Xã hội hóa giáo dục cũng có nghĩa là xã hội tham gia giải quyết một cách phù hợp những vấn đề giao dục đang đặt ra. Xã hội hóa giáo dục là đa dạng hóa các loại hình giáo dục; là mở rộng quy mô đáp ứng yêu cầu giáo dục của xã hội; là xây dựng cơ cấu ngành học, cấp học hợp lý; là kiểm soát được chất lượng đào tạo toàn diện và ngày càng nâng hai Những vấn đề đặt ra của quá trình xã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện nayXã hội hóa giáo dục ở nước ta hiện này cần quan triệt và thực hiện những vấn đề chính cụ thể như sauXã hội hóa giáo dục về nội dung, chương trình giáo dục. Giáo dục là hoạt động tuân theo quy luật nhận thức của con người từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nông đến sâu… việc xây dựng nội dung chương trình giáo dục cần phải tuân theo quy luật nhận thức đó. Việc hiện đại hóa giáo dục là thiếp thu, trang bị những tri thức, kiến thức hiện đại cho người học, nhưng phải căn cứ vào quy luật nhận thưc. Vì thế không bảo thủ, trì trệ hoặc đưa mọi cái mới bất kỳ vào giáo dục một cách thiếu chọn lọc làm cho không những không thực tế, thiếu hiệu quả mà còn phản tác dụng. Xã hội hóa giáo dục là xây dựng nội dung, chương trình giáo dục phù hợp, thiết thực, có hiệu quả với từng loại đối tượng trong xã hội và xã họi phát huy tốt vai trò của mình trong quá trình giáo hội hóa giáo dục trong hệ thống tổ chức cơ sở giáo dục, cấp học, ngành học, huy động tài chính, kinh phí của xã hội. ở nhiều nước trên thế giới, người ta thực hiện xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực này bằng cách huy động các nguồn đóng góp tài chính của xã hội qua thuế và các nguồn thu khác để Nhà nước trực tiếp quản lý, đầu tư cho giáo dục. Vì vậy, họ thực hiện hệ thống giáo dục thống nhất, nhà nước chi phí đầy đủ, thường xuyên cho mọi nhà hội hóa giáo dục trong phương thức hoạt động giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là xây dựng xã hội học tập, mọi người trong xã hội ở mọi lứa tuổi, mọi cương vị đều tự giác, say sưa, có nhu cầu học tập mà thế giới hiện nay đang trở thành xu thế phổ biến. Ở nước ta, hình thức xã hội hóa giáo dục này cần được khuyến khích, có chính sách và cơ chế, chế tài thích hợp để cổ vũ mọi người tự học. Đào tạo có sự tham gia của nhà sử dụng lao động Ngay từ khi mới là sinh viên, Ngô Quang Khánh, Trường đại học FPT ngành Kỹ thuật phần mềm, đã được nhận vào thực tập và làm việc với khách hàng Nhật Bản tại Công ty CP Phần mềm FPT FPT Software. Trong quá trình đó, Khánh đã tự nâng cao trình độ tiếng Nhật, học văn hoá người bản địa và mở rộng quan hệ với các công ty Nhật Bản. Sau kỳ thực tập, Khánh xuất sắc vượt qua vòng tuyển chọn, và được sang Nhật theo chương trình hợp tác phát triển giữa Đại học FPT với Tập đoàn SBI Holdings. Đến giờ, Khánh vẫn đang làm việc tại đây, với mức lương mà nhiều người mơ ước. Khánh chỉ là một trong số nhiều sinh viên có năng lực, ngoại ngữ và chuyên môn vững chắc của Đại học FPT đáp ứng tốt yêu cầu tuyển dụng của những người sử dụng lao động khắt khe từ Nhật Bản. Trên website của trường, bà Phạm Tuyết Hạnh Hà – Trưởng Phòng Công tác sinh viên cho biết, hiện nay có 10-15% cựu sinh viên Trường đại học FPT đang học tập và làm việc tại nước ngoài, trong đó 50% đang học tập và làm việc tại Nhật Bản. Trường đại học FPT là một trong những cơ sở giáo dục đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu là “tấm gương” điển hình về xã hội hoá giáo dục. Sau 5 năm thực nghiện Nghị quyết số 29, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Bộ đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học đổi mới công tác xây dựng chương trình đào tạo trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà sử dụng lao động; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra theo từng ngành đào tạo. Kết quả là nhiều cơ sở giáo dục đại học đã tích cực rà soát, điều chỉnh, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học, tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. “Đào tạo kết hợp với doanh nghiệp được xem là một đột phá của nhiều trường như Trường đại học Công nghiệp Hà Nội, Trường đại học Bách khoa Hà Nội, Trường đại học FPT… trong các hoạt động xây dựng chương trình giảng dạy, thực tập, kiến tập,… các nội dung do doanh nghiệp đặt hàng”, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ. Thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách cho phát triển giáo dục Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong giáo dục đào tạo, ngày 4-11-2013, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/ về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Nghị quyết xác định Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả; xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Theo Bộ giáo dục và Đào tạo, kể từ sau khi Nghị quyết số 29-NQ/ ra đời, xã hội hóa giáo dục trong những năm qua đã đạt góp phần nâng tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách. Chủ trương xã hội hóa giáo dục đã tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển giáo dục. Số liệu của Bộ giáo dục và Đào tạo cho biết, tại thời điểm năm 2015, giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục TCCN và giáo dục đại học cả nước đã thu hút được xấp xỉ 18 nghìn dự án trong nước. Số dự án này đã tạo ra xấp xỉ 1,8 triệu chỗ học, gần 200 nghìn chỗ làm việc trong đó khoảng 112,6 nghìn chỗ làm việc cho giáo viên và giảng viên; cung cấp cho thị trường lao động hơn 93,1nghìn người/năm đã qua đào tạo trình độ TCCN, cao đẳng và đại học. “Xã hội hóa giáo dục đã giúp thúc đẩy quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới về dạy, học và quản lý giáo dục, góp phần đưa giáo dục và đạo tạo hội nhập với các nước trong vùng và trên thế giới”, báo cáo của Bộ giáo dục và Đào tạo về sơ kết 5 năm triển khai Nghị quyết 29 đã nhấn mạnh. Theo báo cáo, các lĩnh vực công nghệ mới được chuyển giao bao gồm phương pháp dạy học, xây dựng và phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy; phát triển tổ chức và đội ngũ, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch giáo dục và quản trị cơ sở giáo dục, đào tạo... Nhiều chương trình giáo dục tiên tiến theo hướng tiếp cận năng lực, phát triển các kỹ năng mềm, quan tâm nhiều hơn đến hoạt động ngoại khóa giúp học sinh, sinh viên phát triển thể chất, năng khiếu và tính sáng tạo, chủ động hòa nhập và chấp nhận cạnh tranh khi đi ra môi trường quốc tế đã được quan tâm, nghiên cứu và triển khai trong thực tế. Cụ thể, tính đến năm học 2016-2017, đã có 35 chương trình tiên tiến ở 23 cơ sở đào tạo; 16 chương trình kỹ sư chất lượng cao theo tiêu chuẩn của Cộng hoà Pháp ở 4 cơ sở đào tạo và 56 chương trình chất lượng cao ở các cơ sở khác. Ngoài ra, các trường đại học còn có hơn 500 chương trình liên kết đào tạo quốc tế với các trường đại học ở các nước trên thế giới. Tính đến hết năm học 2018-2019, đã có gần 550 chương trình hợp tác và liên kết đào tạo đang hoạt động giữa 85 cơ sở giáo dục Việt Nam với 258 cơ sở giáo dục đại học nước ngoài thuộc 33 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài đã tuyển được 86 nghìn sinh viên, học viên trong đó có khoảng 48 nghìn người đã tốt nghiệp ở các trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và các trình độ khác; và người đang học. Những thành công của cá nhân chàng sinh viên Ngô Quang Khánh, của Trường đại học FPT và nhiều cơ sở đào tạo khác là ví dụ điển hình về những thành công trong chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục. Đây chính là một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước phù hợp với sự phát triển của xã hội. Về quốc tế hóa giáo dục đại học Các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu của Hội đồng Anh hướng đến việc đề cao nền giáo dục toàn cầu và đẩy mạnh tinh thần công dân toàn cầu. Chúng tôi thúc đẩy hoạt động này bằng cách kết nối các chuyên gia đang làm việc tại Vương quốc Anh trong lĩnh vực giáo dục đại học với các đối tác tương tự tại Việt Nam và quốc tế. Ngoài ra, chúng tôi kết nối các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ sở đào tạo giáo dục đại học của cả hai nước. Hội đồng Anh hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các cá nhân và các Bộ tại Việt Nam, Vương quốc Anh và toàn cầu để chia sẻ những ví dụ tiêu biểu nhằm giúp phát triển chuyên môn trong các lĩnh vực Chính sách Kỹ năng lãnh đạo Việc làm và phát triển sự nghiệp Nghiên cứu học thuật MỤC TIÊU CỦA CHÚNG TÔI Quốc tế hóa Giáo dục đại học hỗ trợ quá trình cải cách giáo dục quốc gia tại Việt Nam và đưa yếu tố quốc tế vào chương trình dạy và học trong các trường đại học và cao đẳng. Trong chương trình này chúng tôi hợp tác với với các Bộ và đối tác của Vương quốc Anh để xây dựng chiến lược, chính sách và thực tiễn nhằm phát triển nguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam tiến tới một nền kinh tế tri thức. khuyến khích các thảo luận, trao đổi trong nước và quốc tế về những vấn đề và thách thức của giáo dục đại học hỗ trợ các chính sách của Chính phủ hướng tới tăng thêm việc làm và tăng trưởng kinh tế thông qua nền giáo dục để phản ánh chân thực nhu cầu của các nhà tuyển dụng hỗ trợ và tham gia vào các mạng lưới phát triển chuyên môn khuyến khích chia sẻ thông tin và đối thoại. CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CHÚNG TÔI Hoạt động của chúng tôi trong lĩnh vực quốc tế hóa giáo dục đại học bao gồm Đối thoại chính sách toàn cầu và giáo dục Chúng tôi giúp các nhà giáo dục từ vương quốc Anh và trên khắp thế giới xác định các chủ đề nòng cốt và các vấn đề để trao đổi và tranh luận. Mục đích là nhằm xây dựng các chính sách và thực tiễn tốt hơn để tạo ảnh hưởng tới các nhà lãnh đạo giáo dục và các nhà hoạch định chính sách. Công việc của chúng tôi bao gồm cả việc tổ chức các hội nghị tại Việt Nam và trên toàn cầu. Hợp tác đối tác kinh tế tri thức Chúng tôi tin tưởng mô hình hợp tác đối tác giữa các cá nhân từ các nước và nền văn hóa khác nhau là cùng có lợi cho tất cả các bên tham gia. Do đó, chúng tôi tạo cơ hội và khuyến khích các hợp tác đối tác quốc tế thông qua việc giới thiệu các cơ sở đào tạo hàng đầu của Vương quốc Anh vào Việt Nam, cũng như hỗ trợ các nhà giáo dục Việt Nam sang thăm quan và học tập tại Vương quốc Anh. Các dịch vụ chúng tôi cung cấp trong lĩnh vực tiếp thị giáo dục quốc tế Hội đồng Anh Việt Nam cung cấp một gói các dịch vụ chuyên nghiệp giúp các cơ sở giáo dục đạt được kết quả tốt nhất từ các hoạt động tiếp thị quốc tế của họ. Để tìm hiểu thông tin chi tiết về từng loại hình dịch vụ, xin mời ghé thăm trang web của chúng tôi, trang các dịch vụ tiếp thị giáo dục quốc tế của Hội đồng Anh. Chuyên môn, kinh nghiệm và mạng lưới toàn cầu của Hội đồng Anh sẽ giúp các đối tác đạt được mục đích của họ trong công cuộc quốc tế hóa giáo dục bậc đại học. NHỮNG HỖ TRỢ CỦA CHÚNG TÔI Chúng tôi có thể hợp tác với các bạn nhằm chia sẻ các bài học và trải nghiệm về cải cách và quốc tế hóa giáo dục với sự tham gia của các nhà lãnh đạo giáo dục toàn cầu giúp bạn tìm tiếp cận những đối tác của Vương quốc Anh phù hợp nhất để cùng hợp tác quảng bá các chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Vương quốc Anh cung cấp thông tin về các cơ hội hợp tác và các nguồn quĩ của chính phủ. luanvantot Zalo/tele 0934573149BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤHỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIATẠ THỊ BÍCH NGỌCXÃ HỘI HÓA GIÁO DỤCĐẠI HỌC Ở VIỆT NAMHIỆN NAYChuyên ngành Quản lý công Mã số 9 34 04 03TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNGHÀ NỘI, 2021Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149Công trình được hoàn thành tại Học viện Hành chính Quốc giaNgười hướng dẫn khoa học 1. PGS. Trương Quốc Chính PGS. Đặng Khắc Ánh Phản biện 1 .................................................................................... Phản biện 2 ....................................................................................Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện Địa điểm Phòng bảo vệ luận án tiến sĩ - Phòng họp..... Nhà ......, Học viện Hành chính Quốc gia. Số 77 - Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa - Hà Nội Thời gian vào hồi ......... giờ ..... ngày ... tháng .... năm .........Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam hoặc thưviện của Học viện Hành chính Quốc khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Dưới góc độ quản lý công, xã hội hóa XHH là phương thức đa dạng hóa chủ thể cung ứng dịch vụ công. Trong các học thuyết kinh tế phương Tây, XHH được xem là một giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết các thất bại của thị trường, và XHH dịch vụ công được hiểu là việc Nhà nước cung cấp dịch vụ công dựa trên việc sử dụng các nguồn lực công. Tại Việt Nam, XHH dịch vụ công được hiểu là huy động và tổ chức cho các thành phần trong xã hội tham gia cung ứng dịch vụ công dưới sự quản lý của Nhà nước. Tuy khác biệt về nội hàm, song từ góc độ quản lý công, có thể thấy sự tham gia của các chủ thể ngoài Nhà nước vào việc thực hiện các nhiệm vụ công là một xu thế tất yếu phổ biến ở các quốc gia. Giáo dục đại học GDĐH là hoạt động giáo dục sau trung học phổ thông nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học về một ngành, lĩnh vực cụ thể. Trong những năm qua, các hoạt động chủ yếu của XHH GDĐH ở Việt Nam đã diễn ra rất sôi nổi. GDĐH ngoài công lập phát triển mạnh nhưng chưa đồng đều và còn nhiều hạn chế. Hoạt động thu hút tài chính ngoài ngân sách được thực hiện dè dặt, thiếu chiến lược. Việc tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính đang bị thả nổi tùy vào năng lực tự thân của từng cơ sở GDĐH. Việc thực hiện quyền tự chủ được triển khai mạnh, song còn thiếu cơ chế và động lực để trở nên phổ biến. Hợp tác quốc tế về GDĐH đã thực hiện nhưng chưa tương xứng với tiềm năng... Với mong muốn khắc họa hiện trạng, chỉ rõ nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam, nghiên cứu sinh chọn “Xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá thực trạng XHH GDĐH ở nước ta, luận án đề xuất quan điểm vàTham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731491Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731492Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà nước QLNN đối với giáo dục và GDĐH. 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu Luận án tập trung phân tích các sách chuyên khảo, các bài nghiên cứu; các văn kiện và nghị quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách hiện hành về XHH giáo dục và XHH GDĐH; dữ liệu thống kê thường niên của Bộ Giáo dục và Đào tạo; các bài viết trên các trang thông tin điện tử về các vấn đề liên quan tới XHH GDĐH. - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Bảng hỏi được phát tới giảng viên và sinh viên theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với mục tiêu thu về 50 phiếu trả lời của sinh viên và 10 phiếu trả lời của giảng viên mỗi trường để thu thập thông tin nhằm đánh giá thực trạng XHH GDĐH ở Việt Nam. Các số liệu thu thập được sử lý bằng phần mềm Statistical Package for the Social Sciences SPSS Statistics. - Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập thông tin từ các đối tượng liên quan nhằm đánh giá hoạt động XHH GDĐH ở Việt Nam hiện nay và góp phần xây dựng các giải pháp tăng cường hoạt động này trong thời gian tới. Phương pháp phỏng vấn sâu được tiến hành trên hai nhóm đối tượng, gồm cán bộ quản lý trong các cơ quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo có chức năng quản lý các vấn đề liên quan tới nội dung nghiên cứu và cán bộ quản lý đương nhiệm cấp trường/khoa/bộ môn tại các trường đã chọn. 5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 5. Câu hỏi nghiên cứu - XHH GDĐH ở Việt Nam là gì? - Tại sao phải đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam? - Thực trạng XHH GDĐH ở Việt Nam đang như thế nào? - Cần thực hiện những giải pháp nào để đẩy mạnh XHH GDĐH ởViệt Nam?Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149 Giả thuyết nghiên cứu XHH GDĐH ở Việt Nam là quá trình huy động sự tham gia của toàn xã hội vào việc thúc đẩy sự phát triển của GDĐH dưới sự quản lý của Nhà nước. Cần đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam vì XHH GDĐH làm giảm nhẹ gánh nặng ngân sách đồng thời đảm bảo nguồn cung đào tạo nhân lực trình độ ĐH; tạo ra nhiều cơ hội học tập, góp phần xây dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời; tạo nên động lực cạnh tranh trong toàn hệ thống, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực QLNN về GDĐH; và làm phát huy các tiềm lực của xã hội, khích lệ tính chủ động của các bên liên quan nhằm nâng cao chất lượng GDĐH. Các phương diện biểu hiện của XHH GDĐH đều đang được triển khai, trong đó Phát triển GDĐH ngoài công lập là hoạt động được triển khai sớm nhất, có tốc độ phát triển nhanh nhất, song hiệu quả thu được chưa đạt tới mục tiêu đã đề ra; Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH là hoạt động được diễn ra thường xuyên và rộng khắp, tuy nhiên các bên liên quan vẫn đang đóng vai trò thiếu chủ động và chưa phát huy hết tiềm lực; Hoạt động thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH từng bước được thí điểm ở phạm vi nhỏ và song mới ở giai đoạn đầu áp dụng nên hiệu quả chưa rõ; Hoạt động thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH và hoạt động hợp tác quốc tế về GDĐH chưa được triển khai tương xứng với tiềm năng. Để đẩy mạnh XHH GDĐH ở Việt Nam, cần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của XHH GDĐH; hoàn thiện chính sách, pháp luật XHH GDĐH; tổ chức thực hiện có hiệu quả XHH GDĐH; bảo đảm các điều kiện đẩy mạnh XHH GDĐH. Mặc dù còn hạn chế, song nếu thực hiện tốt các giải pháp, XHH GDĐH sẽ phát huy được tốt vai trò. Điểm mới của Luận án Thứ nhất, luận án sử dụng cách tiếp cận của quản lý công để nghiên cứu XHH GDĐH với tư cách hoạt động XHH đối với một dịch Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731494Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731495Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Các công trình ngoài nước Huy động sự tham gia của xã hội vào việc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của GDĐH là mối quan tâm của nhiều học giả trên thế giới. Vì điều kiện lịch sử cụ thể và bối cảnh xã hội khác nhau nên biểu hiện của hoạt động này ở các quốc gia có sự khác biệt. Nếu như ở Hoa Kỳ, tự chủ ĐH là triết lý chủ đạo và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống GD đem lại thực tiễn phong phú cho các nhà nghiên cứu; thì ở châu Âu, cùng với tự chủ ĐH, cách thức triển khai phương thức trao đổi giảng dạy và học tập Erasmus và hiệu quả của hình thức học tập trực tuyến quy mô lớn MOOCs đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu. Trong khi đó, tại Trung Quốc, XHH GDĐH gắn liền với các vấn đề về đóng góp tài chính và đang chuyển mình trong tổng thể công cuộc hiện đại hóa giáo dục. Các công trình trong nước Tại Việt Nam, cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT được xác định là quốc sách hàng đầu. Quan tâm phát triển và đẩy mạnh đầu tư cho giáo dục không chỉ là chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, mà còn là hành vi mang tính truyền thống trong từng gia đình Việt Nam. Vì thế, XHH giáo dục có một nền tảng tốt để hình thành và phát triển một cách phong phú. Trên bình diện chung này, các nghiên cứu về XHH giáo dục được triển khai rất đa dạng. Các công trình nghiên cứu chung về xã hội hóa giáo dục GDĐH là bậc giáo dục cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong khi hoạt động XHH đối với các loại hình và bậc học còn lại được nghiên cứu khá cụ thể, thì XHH GDĐH lại là vấn đề còn đang để ngỏ. Có thể khẳng định chưa có một nghiên cứu nào xem xét XHH GDĐH như một đối tượng nghiên cứu. Đây là khoảng trống lý thuyết để nghiên cứu sinh tiến hành thực hiện luận án này. Các công trình nghiên cứu về từng nội dung của xã hội hóa Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149giáo dục đại học Tiếp cận XHH GDĐH như một chuỗi các hoạt động và trên cơ sở năm nội dung chủ yếu của hoạt động XHH GDĐH ở Việt Nam, có thể sắp xếp các nghiên cứu về từng khía cạnh cụ thể của XHH GDĐH dưới góc độ từng nội dung độc lập theo các nhóm cơ bản. 1. Nhận xét kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan và vấn đề đặt ra đối với luận án Các công trình chủ yếu được công bố dưới dạng bài báo khoa học, sách tham khảo và Luận án tiến sỹ, chủ yếu nghiên cứu về XHH giáo dục nói chung. Các nghiên cứu lý luận về XHH giáo dục chủ yếu giới thiệu thể chế Nhà nước về XHH và chỉ ra các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế Nhà nước về XHH giáo dục nói chung và XHH giáo dục đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, chưa có nghiên cứu nào tập trung xem xét và làm rõ các vấn đề lý luận và phân tích thực tiễn về XHH giáo dục đối với bậc ĐH. Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay. Các nghiên cứu giới thiệu trong tổng quan là nghiên cứu về từng biểu hiện cụ thể của XHH GDĐH theo quan điểm lý thuyết của luận án. Các nghiên cứu về GDĐH ngoài công lập đã làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển, phân tích những ưu điểm và hạn chế của GDĐH ngoài công lập ở Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra các giải pháp từ thực tiễn quản lý. Các nghiên cứu về thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH chủ yếu tiến hành trên đối tượng nghiên cứu là các trường ĐH công lập và được xem xét trong vai trò của yếu tố tiên quyết giúp thực hiện tự chủ ĐH. Các nghiên cứu về tiếp nhận nguồn lực phi tài chính cho GDĐH chủ yếu tập trung vào vấn đề “nóng” và “khó” do lịch sử để lại là mối quan hệ giữa viện nghiên cứu và trường ĐH và bước đầu đề cập tới vai trò của các doanh nghiệp đối với trường ĐH, còn nhiều bên liên quan khác chưa được làm rõ khả năng đóng góp cho GDĐH. Các nghiên cứu về tự chủ ĐH chủ yếu thiên về nghiên cứu lý luận nhằm chỉ ra nội hàm khái niệm và phạm vi của tựTham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731497Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 09345731498Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tạiluanvantot Zalo/tele 0934573149thành phần khác nhau trong xã hội. Khái niệm “giáo dục đại học” GDĐH là giai đoạn giáo dục không bắt buộc sau giáo dục phổ thông. GDĐH có mục tiêu là cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học về một ngành, lĩnh vực cụ thể, từ đó làm gia tăng sự am hiểu chuyên môn của người học, đồng thời tăng cường khả năng làm việc kiếm sống của họ. GDĐH gồm hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu và các hoạt động hỗ trợ giảng dạy, nghiên cứu. Ở nước ta, GDĐH bao gồm đào tạo các trình độ ĐH, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ được thực hiện tại các cơ sở GDĐH. Khái niệm “xã hội hóa giáo dục đại học” XHH GDĐH là quá trình huy động sự tham gia của toàn xã hội vào việc thúc đẩy sự phát triển của GDĐH dưới sự quản lý của Nhà nước. Sự tham gia của toàn xã hội được thể hiện trên nhiều phương diện và dưới dạng các nguồn lực được huy động. Vì bản chất của quản lý công là nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu công, nên XHH GDĐH được hiểu là một giải pháp để nâng cao chất lượng GDĐH, hướng tới đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. 2. Nội dung, đặc điểm và vai trò của xã hội hóa giáo dục đại học Nội dung của xã hội hóa giáo dục đại học Phát triển GDĐH ngoài công lập; Thu hút tài chính ngoài ngân sách cho GDĐH; Tiếp nhận các nguồn lực phi tài chính cho GDĐH; Thực hiện quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH; Hợp tác quốc tế về GDĐH. Đặc điểm của xã hội hóa giáo dục đại học XHH GDĐH là mở rộng chủ thể cung ứng dịch vụ GDĐH. XHH GDĐH không làm giảm trách nhiệm QLNN về GDĐH. XHH GDĐH được thực hiện dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. XHH GDĐH là hoạt động mang tính xã hội, phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Vai trò của xã hội hóa giáo dục đại họcTham khảo miễn phí các tài liệu khác tại Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật Chươna ¡V GIẢI PHÁP NÂNG CAO CH Ấ T LƯỢNG ĐÀO TẠO Chủ trương xã hội hoá giáo dục và xây dựng xã hội học tập Nghị quyết Trung ưđng 6 lần 2 khoá IX của Đảng chỉ có thể được thực hiện thông qua chất lượng đào tạo cụ thể của mỗi trường đại học dân lập trong cả nước. Suy ngẫm đế đưa ra và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo là trách nhiệm của mỗi cán bộ quản lý giáo dục, của đội ngũ cán bộ quản lý cấp trường, vì đây là điều kiện sông còn để trường dân lập phát triển. I. XÀY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ XÁC LẬP VỊ TRÍ TRUNG t Ằ m C ủ Ã sin h v iên t r o n g tr ư ờ n g Để nâng cao và ổn định chất lượng đào tạo nhất thiết phải xây dựng cho được đội ngủ cán bộ giáo viên cơ hữu của trưòng dân lập và chăm lo xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện với đội ngũ cán bộ thỉnh giảng từ các trưòng công lập. Ngưòi thầy giáo có vai trò quan trọng troiig việc đào tạo, rèn luyện, phát triển trí tuệ và nhân cách cho thê hệ trẻ. Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm 92 Giải pháp nâng cao chất luợng đào tạo chất lượng giáo dục. Trường dân lập phải tạo điều kiện để nhà giáo không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tôt cho người học. Việc tăng cưòng xây dựng đội ngũ thầy giáo cần phải được ưu tiên số một nhằm từng bưóc đáp ứng sự phát triển giáo dục đại học dân lập trước những thách thức mới. Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2001, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có ý kiến coi chỉ sô về đội ngũ giảng viên là một trong các tiêu chuẩn buộc phải có đốì với một trường đại học. Chỉ cho phép mở trường mới, mã ngành đào tạo mới khi có đủ tiêu chuẩn về đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác. Các chỉ sô về đội ngũ giảng viên không chỉ là số lượng, mà còn là chất lượng và cơ cấu đội ngũ. Đội ngũ giảng dạy chất lượng cao là nhân tố cđ bản trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Xây dựng đội ngũ giáo viên cơ hữu bằng hai cách Một là, ''chiêu hiền đãi sỹ” số cán bộ có trình độ thạc sỹ trở lên, đã giảng dạy lâu năm ở các trường công lập nay về hưu tiếp tục cổhg hiến thêm chồ trường dân lập. Làm được điều này, trường dân lập vừa góp phần giải quyết việc làm cho sô cán bộ khoa học đó - một vấn đề xã hội đang được đặt ra bức xúc hiện nay - vừa nâng dần tỷ lệ giáo viên trong tổng số cán bộ cđ hữu theo đúng quy định trong Quy chê trưòng đại học dân lập của Chính phủ; Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy trẻ và mới cho mình bằng cách tiếp nhận hỢp lý 3Ô"sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và có thể cả loại khá nhưng 2Ó năng khiếu sư phạm, các sinh viên là Đảng viên tốt 93 Xã hội hóa giáo dục nhin từ góc độ pháp luật nghiệp từ chính trường dân lập. tạo điều kiện đế số cán bộ trẻ này thường xuyên dự giờ, hướng dẫn thảo luận cho sinh vién và cần gửi họ đi đào tạo cao học trong và ngoài nưóc. Nhà trường có chính sách tô chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình. Đây sẽ là nguồn cán bộ giảng dạy công hiến lâu dài cho trường, bảo lảm sự phát triển vững chắc của trường trong tưđng lai. Xây dựng đội ngũ giáo viên cơ hữu cũng là nhằm thực hiện Điều 69 Luật giáo dục “Việc đào tạo nhà giáo cho trường cao đẳng, trường đại học được thực hiện theo phương thức lỉu tiên tuyển chọn các sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, ìoại giỏi, có phảm chất tốt và những người có trinh độ đại học, sau đại học, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành nhà giáo để tiếp tục đào tạo về 'huyên môn và nghiệp vụ sư phạm." Ngưòi thầy giáo thuộc bất kỳ loại hình trưòn? nào đều muốn đưỢc tôn trọng, muôn được tiến thân và kháng định mình, muôn thường xuyên được tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn và nỉíhiệp vụ để nghiên cứu, giảng dạy tốt hơn. Vì vậy, điều quan trọng là xã hội và Nhà nước phải thực sự coi trọng và đảm bào quyền bình đẳng về chính trị. quyển được nâng cao trình độ giữa thầy giáo công lập và ngoài công lập. Có một thực tê là, một sô lãnh đạo các trường đại học 94 Giái pháp nàng cao chất lượng đào tạo lân lập có thê do nhiều nguyên nhán khác nhau trong đó có lý do m uôn giảm chi phí đào tạo. chưa có V thức trách nhiệm cao trong việc nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy cơ hữu của riêng mình, Do đó, cần phải có quy định bắt buộc về sô”lượng giáo viên tôi thiểu phải có không những đôi với những trường sắp được thành lập mà cả những trường đã hoạt động từ trùớc tới nay. Tiêu chí sau miíời năm kể từ ngày thành lập các trường đại học dân lập phái có 50% sô giáng viên là không thể nhân nhượng, phải triệt đê thi hành và là một tiêu chí đê xem xét ấn định chỉ tiêu tuyển sinh hàng nãm. Hiện nay, lực lượng giảng viên crt hữu của các trũòng đại học và cao đắng ngoài công lập nhìn chung còn rốt mỏng, nơi cao nhất cũng khoảng 30%, trong sô" đó không ít sinh viên mới ra trường được tuyển để làm giảng viên ngoại ngữ, tin học, Theo số liệu công bố thì uăm 1998 tông số cán bộ của lõ trường đại học dân lập có người, giảng viên chiếm 35%, còn 65% là cán bộ quản lý và hành chính troi\g khi tỷ lệ Ucày toàn ngành đại học là Õ7,3"ó. Chất lượng cán bộ giảng dạy ỏ các trường đại học ngoài cônẹ lập hiện nay là rất tỏt. tý lệ số giảng viên có bằng thạc sỷ trơ lên là Õ4,6”I trong khi tỷ lệ này của toàn ngành là 37,1%"’. Trẻ hoá cán hộ quản lý đại học dán lập là nhu cầu bức ’ Văn phòng Chinh phủ, Dể tài Xã liội hoá giáo dục đại học và cao lắng. Hà Nội. 12/2001, tr. 37. 95 Xà hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật xúc trong quá trinh phát triên. Nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa cơ chê quản lý ở trường đại học dân lập, chúng ta cần nhận thức rõ hơn một sô điều khoản trong Quy chê đại học dân lập của Chính phủ và trên tinh thần đó chúng tôi xin đề xuất một sô" sửa đổi theo hướng trẻ hoá đội ngũ cán bộ quản lý như sau Điều 45 Quy chế đại học dân lập quy định; “Hiệu trưởng trường đại học dân lập tuyển dụng giảng viên, cán bộ và nhân viên bằng hình thức hỢp đồng lao động. Cán bộ quản lý, giảng viên cơ hữu, cán bộ và nhân viên ở các đơn vị phòng, ban, khoa của trường đại học dân lập không ở trong biên chê nhà nưóc, trừ những trường hỢp đặc biệt được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định biệt phái.” Như vậy, việc hình thành đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu của trường đại học dân lập phải tuân thủ quy định trên và phải xuất phát từ nhiệm vụ cụ thể của trường. Loại hình trưòng dân lập được xuất hiện từ chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng. Nhiệm vụ cơ bản của trường là đảo tạo nguồn nhân lực cho xã hội trên cơ sở của nguyên tắc tự cân đỔì thu chi. Một mặt, nhà trường thực hiện việc đào tạo đại học đảm bảo chất lưỢng, mặt khác phải giúp Nhà nước giải quyết một phần vấn đê việc làm trong xã hội. Nếu hiểu đúng như vậy thì cán bộ cơ hữu của trường đại học dân lập phải hội đủ các tiêu chuẩn cơ bản + Có phẩm chất đạo đức tốt; + Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; 96 Giải pháp nâng cao chất luợng đào tạo + Có sức khoẻ; + Không phải viên chức nhà nước. Chỉ những người trong độ tuổi lao động và không bệnh tật mới đảm bảo tiêu chuẩn có sức khoẻ như Quy chế đã quy định và hạn chê tốì đa việc sử dụng viên chức nhà nước mới đảm bảo tiêu chuẩn “không ỏ trong biên chế nhà nưốc”. Việc trong vài năm đầu thành lập các trường đại học dân lập có mòi một sô viên chức nhà nưốc vào làm việc và sử dụng nhiều cán bộ đã quá tuổi lao động là hỢp lý. Đến nay, sau mưòi năm hoạt động tình trạng này vẫn tồn tại ỏ các trường đại học dân lập là không hợp lý nữa. Đó có thể là yếu tố chưa ổn và chưa hỢp lý để có thể đào tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo. Từ những phân tích trên chúng tôi cho rằng không được hiểu thuật ngữ “không ở trong biên chê nhà nước” mà bản Quy chế trưòng đại học dân lập quy định là chỉ gồm những ngưòi về hưu. cần phải hiểu rằng, đội ngũ cán bộ, nhân viên cơ hữu của trường đại học dân lập là những ngưòi hội đủ các tiêu chuẩn như đã nói trên, đặc biệt là còn trong độ tuổi lao động và họ không ở trong biên chê nhà nưốc. Để đảm bảo quá trình phát triển của các trường đại học dân lập đủ sức thực hiện chủ trưđng xã hội hoá giáo dục của Đảng, thiết nghĩ, đã đến lúc không nên để viên chức nhà nước vào làm việc ở các trường đại học dân lập trừ một sô' trường hợp đặc biệt được Bộ Giáo dục và Đào tạo biệt 97 Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật phái và cần trẻ hoá đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên cơ hữu của trường đại học dân lập. Trường dân lập muôn phát triển thì trước hết phải lây sinh viên làm trung tâm của mọi hoạt động trong trường. Tất cả vì sinh viên. Phải trăn trở, tâm huyết vói sinh viên, tìm cách giúp sinh viên tích luỹ sức lao động trí tuệ trong những năm tháng học tập tại trường để các em vững vàng lập nghiệp, tạo chỗ đứng phù hợp sau khi ra trường. Trí tuệ của sinh viên phải được chăm lo toàn diện gồm 3 yếu tô' hỢp thành là Trí kỹ năng tác nghiệp nghề được đào tạo, Thể năng lực sáng tạo và sức khoẻ và Mỹ nhân cách, biết cách xử sự trong xã hội. Muốh bảo đảm được điều đó, mỗi cán bộ giáo viên cần phải chăm lo xây dựng môi trường giáo dục trong trường trên cđ sở đoàn kết nội bộ tốt. Đoàn kết nội bộ phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi cán bộ, nhân viên cơ hữu bất kể là chức danh gì. Như vậy đoàn kết nội bộ trên cơ sỏ Quy chế trưòng đại học dân lập của Chính phủ là yếu tổ^ quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo. Cần phải quan tâm đến chất lượng sinh viên nhập trường trên cơ sở thực hiện công tác tổ chức tuyển sinh hỢp lý và có hiệu quả. Chỉ tuyển vào đại học những học sinh vừa nắm chắc kiến thức phổ thông, vừa có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo. Sinh viên chỉ có thể học tốt khi họ được nhập học vào khoa, ngành phù hỢp với khả năng, nguyện vọng và hưóng lập nghiệp sau khi ra trường. Do vậy, trong Quy chê tuyển sinh cần để cho từng trường tự xác định tính 98 Giải pháp nàng cao chất tượng đào tạo hợp lý trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học và tuyển chọn sinh viên cho trường mình một cách thích hđp. Hiện nay, một sô nhà quản lý có thái độ tiêu cực trưốc việc phân hoá cấp độ về chất lượng giáo dục giữa các trường đại học. Chúng tôi cho rằng việc phân hoá chất lượng là thực tế hiển nhiên ỏ tất cả các nước trên thế giói kể cả trong nền giáo dục Hoa Kỳ và châu Âu. cần khẳng định rằng việc phân hoá chất lượng không phải chỉ phụ thuộc vào loại hình nhà trưòng là công lập hay dân lập. Việc tạo dựng được môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng về chất lượng đào tạo giữa các trưòng đại học là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đồng thòi cũng là một biện pháp khuyến khích các trường đại học ngoài công lập vươn lên để khẳng định vị trí của mình. Tuy còn một sô" vấn đề cần hoàn thiện nhưng phải khẳng định rằng, hệ thống các trường đại học dân lập đã đem lại nhiều lợi ích, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội. Phần lớn sinh viên tốt nghiệp các trường đại học dân lập đã tìm được việc làm và đang tự khẳng định mình trong tất cả các cơ quan Đảng, Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tê và các tô chức xã hội, đoàn thể. Các nhà quản lý giáo dục đại học hiện nay đang tranh luận một vấn đề khá nhạy cảm và hóc búa; mối quan hệ giữa chất lượng và sô lượng. Một số ngưòi cho rằng cương quyết không hy sinh chất lượng cho sô lượng, nghĩa là chỉ 99 Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật tuyển những học sinh học giỏi vào đại học, không nhất thiết phải đủ sô" lượng. Nhìn nhận vấn đề này như thê là quá cứng nhắc, hơn nữa, xét trên phương diện nào đó là thiếu công bằng trong cơ hội học tập ở bậc đại học. GS. Lâm Quang Thiệp ở Đại học Quốic gia Hà Nội cho rằng hạn chế số lượng để tập trung cho chất lượng là biện pháp cổ điển, bởi lẽ sô" sinh viên đại học nước ta chưa đủ so với yêu cầu nguồn nhân lực. Chúng ta nói thừa thầy thiếu thợ là chỉ mối so sánh một chiều. Nếu nhìn đa chiều thì phải nói là chúng ta quá thiếu thợ và vẫn chưa đủ thầy. Không phải giảm sô lượng thì mặc nhiên có chất lượng, và đôi khi phải tăng số lượng thì mới có chất lượng. cần chuẩn hoá chất lượng trên cơ sở phân tầng và phải thừa nhận rằng chất lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ỏ bất kỳ nưốc nào cũng có nhiều tầng chất lượng. Xin nêu sô" liệu để tham khảo. Xét theo tỷ lệ sinh viên trên sô" thanh niên độ tuổi học đại học Nền giáo dục đại học đưỢc xem là dành cho sô" ít khi tỷ lệ này thấp hơn 15%, được xem là đại chúng hoá khi tỷ lệ này đạt từ 15% đến 50%, và được gọi là phổ cập hoá khi tỷ lệ này đạt trên 50%. Tỷ lệ này hiện nay ở Canađa và Hoa Kỳ là trên 80%, Hàn Quốc là trên 70%, các nưóc thuộc OECD trung bình trên 50%, ở Trung Quốc là 18% còn ở Việt Nam khoảng 8%, nghĩa là cứ 100 thanh niên trong độ tuổi học đại học thì có 8 ngưòi học đại học“*. Phân tích sô" liệu này, Tham luận của GS. Lâm Quang Thiệp tại Hội thảo Đổi mối giáo dục đại học tháng 3/2004. 100 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo GS. Phạm Phụ ở trường Đại học bách khoa thành phô' Hồ Chí Minh nhận xét, nhìn nhận dưổi góc độ “phát triển con người”, việc hạn chế quá mức sự mở rộng quy mô giáo dục đại học cũng có nghĩa là hạn chê việc nới rộng nút “thắt cổ chai” trên con đường học vấn của tuổi trẻ. II. XÂY DỰNG Cơ SỞ VẬT CHẤT • Cần tăng cưòng cơ sở vât chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, bảo đảm điều kiện giảng dạy tốt nhất cho giáo viên. Không có cơ sở vật chất đủ chuẩn mực không thể gọi là trường, do vậy, muốh có một trưòng đại học thì không thể coi nhẹ đầu tư cơ sở vật chất. Để có trưòng phải có đất, cần thực hiện chê độ ưu đãi trong việc sử dụng đất để xây trường như đã quy định tại Điều 91 Luật giáo dục “Nhà trường, cơ sở giáo dục khác được hưởng các ưu đãi về quyền sử dụng đất, tín dụng, miễn giảm thuế do Chinh phủ quy định". Nhà nước có thể giao đất hoặc cho các trường dân lập thuê đất lâu dài với giá ưu đãi để phấn đấu trong vòng mưòi năm kể từ khi thành lập phải xây dựng được trụ sở riêng khang trang của trường. Vấn đề này đã được quy định rõ trong Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 như sau “...Nhà nước giao đất ổn định lâu dài và không thu tiền sử dụng đất đối với đất đượcgiao để xây dựng bệnh viện, cơ sở y tế, trường học, cơ sở dạy nghề, ký túc xá, sân vận động, nhà thi đấu, bể bơi, trung tâm luyện tập, nhà văn hoá, rạp biếu diễn, thư viện, nhà triển lãm và những trường 101 Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật hỢp khác theo quy định của Chính p/iủ...”. Tuy vậy, trên thực tế nhiều trường hoạt động từ lâu nhưng vẫn chưa được giao đất để xây trường. Thiết nghĩ, đây là vấn đề cần được các nhà quản lý lưu tâm hơn nữa cho quá trình thúc đây xã hội hoá giáo dục. Mỗi trường cần xây dựng Thư viện tập trung có quy mô tương đối cả về diện tích, trang thiết bị và cả về sô" đầu sách để giáo viên, sinh viên khai thác, sử dụng có hiệu quả. Nếu đã xây dựng Thư viện điện tử, cần quản lý và khai thác một cách thiết thực, tránh phô trương hình thức và tránh lãng phí. Giảng đường chật chội, phòng thí nghiệm lạc hậu và thư viện nghèo nàn không thể là nơi đào tạo có chất lượng, nhất là nhũng ngành công nghệ tiên tiến. III. XÀY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH,* GIÁO TRÌNH • Ngoài những yêu cầu chung, các trường đại học ngoài công lập được thành lập và xây dựng đúng vào giai đoạn nền giáo dục đại học Việt Nam nói riêng và thế giói nói chung đang phải đổi mới nhiều mặt. Để đáp ứng nhu cầu đổi mới đó và đặc biệt để nâng cao chất lượng đào tạo, vấn đề cần quan tâm đầu tiên là phải khẩn trương đổi mói chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo. Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thốhg; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; bảo tồn và phát huy truyền thốhg tốt đẹp bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phù hỢp với sự phát triển về tâm sinh lý của người học. 102 Giải pháp năng cao chất lượng đào tạo Nội dung, phương pháp giáo dục phải được thể hiện thành chương trình giáo dục; chương trình giáo dục phải được cụ thể hoá thành sách giáo khoa, giáo trình. Chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình phải phù hợp với mục tiêu giáo dục của từng bậc học, cấp học và từng trình độ đào tạo, bảo đảm tính ổn định và tính thống nhất. Chuẩn hoá chương trình và giáo trình là xương sốhg của giáo dục đại học tại tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt giàu, nghèo, phát triển hay đang phát triển. Chuẩn hoá chương trình và giáo trình là cơ sỏ để các trưòng đại học dân lập nâng cao chất lượng đào tạo đảm bảo cho sinh viên sau khi ra trưòng có thể sáng tạo ra công nghệ mới. Dó đó, cần định sốm một lịch trình cho các trưòng đại học dân lập xây dựng chương trình tổng thể của từng trương, từng ngành và từng môn học. Mỗi trường cần xác lập cơ chế quản lý giáo trình, giáo án, đề cương bài giảng, giáo trình tham khảo, cần xúc tiến biên soạn giáo trình riêng của trường và phát hành giáo trình cho sinh viên khi đã được Hội đồng khoa học và đào tạo duyệt. Phân đấu mỗi năm mỗi khoa, ngành biên soạn ít nhất một giáo trình theo khung chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo duyệt. Để xây dựng và thực thi mục tiêu đào tạo cụ thể của mỗi trưồng, lãnh đạo trưòng cần coi trọng đào tạo sinh viên trở thành những ngưòi biết hoạt động ở vị trí tác nghiệp trong nền sản xuất và kinh doanh của xã hội. Còn chất lượng đào tạo phải đưỢc thể hiện ở năng lực hoạt động là cái mà sinh viên cần khi họ muốn khẳng định mình trong 103 Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật xã hội. Đó chính là tiềm năng trí tuệ và tiềm năng tinh thần của sinh viên khi ra trường. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải chú ý tới các yếu tố quan trọng sau - Xây dựng các môn học có hàm lượng thông tin cao Môn học thực chất là hệ thống những khái niệm khoa học. Mỗi khái niệm khoa học đều là một mô hình của hiện thực một khi đã được thực tiễn kiểm nghiệm, nó chính là chân lý khách quan và phản ánh sâu sắc hiện thực. Khái niệm khoa học là điểm xuất phát của dạy và phải là điểm kết thúc của quá trình học tập. Việc đổi mới nội dung giáo dục trên thê giới đều theo xu hướng hiện đại hoá hệ thống khái niệm khoa học của các môn học cho ngang tầm vói trình độ phát triển của ngành khoa học ấy. Để hiện đại hoá các môn học trước hết phải xác định mục tiêu môn học, vỊ trí môn học trong chương trình, tiếp đó xác định nội dung dạy học, phương pháp dạy học. Công việc này đòi hỏi người thầy phải có trình độ cao về chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và có nhiều điều kiện để tiếp cận vối những vấn đề khoa học và lý luận hiện đại. Sau khi xác định mục tiêu chung của trường, của ngành học, phải xây dựng cấu trúc chương trình của từng ngành học, xác định các môn học chuyên ngành, các môn cơ sở và các môn học đại cương và cần lưu ý rằng các môn đại cương không chỉ phục vụ cho các môn chuyên ngành mà còn có tác 104 Giải pháp nàng cao chất lượng đào tạo dụng bảo đảm đào tạo theo diện rộng đề sinh viên ra trường dễ thích nghi vối yêu cầu kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. - Đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt coi trọng các giải pháp có hiệu quả trong việc giảng dạy Tin học và Ngoại ngữ. Để người học sau khi ra trường được khẳng định trong xã hội thông tin, trong chương trình giáo dục quốc gia phải phát triển các chính sách bảo đảm cho tất cả học sinh được tiếp cận vối công nghệ thông tin. Phải từng bước áp dụng công nghệ đào tạo mói theo hướng giáo dục tích cực để tổ chức quá trình dạy học, để kiểm tra, đánh giá, để rèn luyện khả năng lao động mói trong thòi đại tri thức. Nghiên cứu áp dụng xu thế giáo dục hiện đại lấy sinh viên làm trung tâm, nghĩa là phải chú ý đến đặc điểm, quyền lợi của sinh viên, phải tổ chức cho sinh viên hoạt động một cách tích cực và sáng tạo. Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Cần chuẩn hoá chương trình dạy Ngoại ngữ và Tin học cho tất cả các ngành học vì đây là những công cụ chủ yếu để sinh viên tự đào tạo mình ngay trong khi còn học ở trường và sau khi tốt nghiệp. - Cải tiến phương pháp đánh giá học tập trong quá trình giảng dạy. Đánh giá kết quả học tập là một bộ phận gắn liên của 105 Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật quá trình dạy học, vì vậy các đề thi, kiểm tra cần được hoạch định như là một bộ phận nội tại của quá trình giáo dục nhằm mục đích giúp cho sinh viên học tập được tốt hơn. Quá trình học tập là quá trình tích luỹ kiến thức từ thấp đến cao, từ cđ bản đến chuyên sâu, là quá trình nối tiếp, nghĩa là phải nắm vững khối kiến thức A mới có thể tiếp thu được khối kiến thức B, do đó việc đánh giá tốt sẽ cho phép biết rõ mức độ đạt được ở bước trưốc và khẳng định sinh viên đã sẵn sàng chưa cho việc tiếp nhận kiến thức mối ỏ bưốc sau. iV. DÂN CHỦ HOÁ HOẠT ĐỘNG ỏ TRƯỜNG DÂN LẬP • • 9 1. Dân chủ vổh dĩ ban đầu là khát vọng của những người lao động, những người bình dân trong xã hội. Ngày nay, dân chủ được nhân loại đánh giá là một trong những giá trị xã hội to lớn của lịch sử, và đặc biệt, nó trở thành nhu cầu tất yếu của bất cứ một tổ chức, một tập thể nào muốh tồn tại và phát triển, ở đâu mất dân chủ thì ở đó không ổn định, thậm chí tổ chức đó có nguy cơ tự tan rã hoặc bị giải thể. Một xã hội chỉ có thể giữ được ổn định nếu các tế bào xã hội của nó ổn định. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm xây dựng quy chê thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ngay từ năm 1998 Chính phủ đã ra Nghị định ban hành Quy chê thực hiện dân chủ cơ sở cho phường, xã và cơ quan hành chính. Việc thực hiện dân chủ ở trưòng học là vô cùng cần thiết do yêu cầu của quá trình thực hiện 106 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo từ đầu năm 2000 cũng đã ban hành Quy chê thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường. Ngay trong Điều 1 Quy chê của Bộ khẳng định mục đích thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất những điều Luật giáo dục quy định theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong các hoạt động của nhà trường thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân. 2. Đốì với trường đại học dân lập thì việc thực hiện dân chủ có ý nghĩa thiết thực và sốhg còn để ổn định và phát triển. Hiện nay, các trường đại học dân lập đang xây dựng Quy chê thực hiện dân chủ. Đây là điều mừng, vì khi bản Quy chế ra đòi, nó sẽ tạo khả năng cho mọi ngưồi phát huy trí tuệ hiến kế xây dựng trường phát triển bển vững. Chúng tôi hy vọng nhân dịp này, mỗi cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu ở các trường đại học dân lập thể hiện năng lực làm chủ của mình thông qua việc đóng góp ý kiến xây dựng bản Quy chế. Chúng ta hãy tự xây dựng cho mình hành lang pháp lý làm cơ sở bảo đảm dân chủ rộng rãi để mọi người có thể tham gia nhiều hdn vào hoạt động của trưòng. 3. Trưồng dân lập là đơn vị sự nghiệp hoạt động theo chê độ sở hữu tập thể, vì vậy trong bản Quy chê cần nhấn 107 Xă hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật mạnh đến dân chủ trực tiếp, vẫn biết dân chủ có hai hình thức là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nhưng đối vói các đơn vị cơ sở, đặc biệt là những tổ chức hoạt động theo chế độ sở hữu tập thể, thì phải chú trọng đến dân chủ trực tiếp. Truyền thống dân chủ của dân tộc ta ở cơ sở là dân chủ trực tiếp. Trong một thòi gian dài người dân làng xã Việt Nam đã thực hiện dân chủ trực tiếp, tự mình bầu ra ngưòi đứng đầu làng xã. Bây giò người dần cũng trực tiếp bầu Trưởng thôn. Đảng ta đã đề ra phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của ngưòi dân. Từng cơ quan xí nghiệp, từng phường, xã thực hiện công khai hoá về kê hoạch hoạt động, phân phôi, thu chi tài chính... Vậy nên, trường dân lập cần đề cao dân chủ trực tiếp mói phát huy được tiềm năng trí tuệ của mỗi người. 4. Để thực hiện dân chủ trực tiếp , chúng tôi cho rằng cần áp dụng các biện pháp sau Lập hòm thư góp ý và có thể giao cho Phòng tổ chức cán bộ hoặc Công đoàn trường quản lý. Hàng tu ần lãnh đạo nhà trường mỏ hòm thư góp ý để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu trong toàn trường. Những ý kiến xây dựng, có sức thuyết phục và phù hợp với điều kiện thực tê thì cần phải được tiếp thu. Những ý kiến chưa phù hợp cần phải được giải thích làm rõ để mọi ngưòi cùng hiểu. 108 Giải pháp nàng cao chất lượng đào tạo - Quy định trong quy chế một số việc chỉ được tiến hành làm khi đã có đa số hoặc đa số tuyệt đối cán bộ, giáo viên, nhân viên cơ hữu đồng ý. Ví dụ, vấn đề xây dựng cđ sỏ vật chất của nhà trưòng, vấn đê mua sắm tài sản lớn, vấn đề sửa đổi quy chê tổ chức hoạt động của trường, vấn đề quy định độ tuổi nghỉ làm việc tại trường vì nếu không quy định độ tuổi nghỉ làm việc sẽ dẫn đến tình trạng cán bộ trường dân lập làm việc hết đời. 5. Từ những dẫn luận trên tôi cho rằng quy chế dân chủ trường dân lập phải được quy định cụ thể Việc gì Hiệu trưởng có toàn quyền làm, việc gì Hiệu trưởng trước khi thực hiện phải tham khảo ý kiến của cán bộ chủ chốt, việc gì bắt buộc Hiệu trưởng phải xin ý kiến của toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu mới được làm. Hàng năm phải tổ chức Hội nghị đại biểu hoặc Hội nghị toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu bàn những vấn đề gì và ra những nghị quyết nào thì Hiệu trưởng và công đoàn cùng bàn bạc để thực hiện nghị quyết đó. Trong quy chế cũng cần quy định cụ thể Hiệu trưởng bảo đảm những điều kiện để toàn thể cán bộ giảng viên, nhân viên cơ hữu thực hiện tốt nhất quyền dân chủ. Chúng tôi tin rằng, thông qua dân chủ trực tiếp của cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu thì Hội đồng quản trị sẽ vững mạnh vì thường xuyên nắm bắt đưỢc ý nguyện của người lao động để thực hiện thật chuẩn mực những việc quản lý hàng ngày, và ngược lại, Hội đồng quản trị vững 109 Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp ìuật mạnh, đoàn kết thì bảo đảm được đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho người lao động thực hiện quyền dân chủ trực tiếp. Phát huy dân chủ trực tiếp là vấn đề có tầm chiến lược để trưòng dân lập phát triển bền vững, tạo lập đưỢc chỗ đứng xứng đáng trong-hệ thông các trưòng đại học của nưóc nhà. V. HOÀN THIỆN Cơ CHẾ GIÁM SÁT CỦA NHÀ Nước Đốl với ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG ngoài công lậ p • • Giám sát là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa Giám sát là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”"’. Như vậy, giám sát bao gồm hai hậnh vi là theo dõi và kiểm tra. Trong hoạt động giám sát, theo dõi và kiểm tra là hai công việc nốì tiếp nhau. Trên cơ sở kết quả của giám sát, ngưòi ta sẽ thực hiện việc kiểm định đào tạo. Kiểm định đào tạo là một quá trình xác nhận tình trạng một cơ sỏ đào tạo hoặc một chương trình đào tạo sau khi đã kiểm tra nhằm công nhận cơ sỏ hoặc chương trình đó về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tính toàn vẹn và chất lượng đào tạo, làm cho cộng đồng giáo dục và công chúng tin cậy Viẹn Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb. Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, Hà Nội 2002, tr. 389. 110 Giải pháp nàng cao chất lượng đào tạo ở cơ sở đào tạo và chương trình đó. Kiểm định đào tạo có chức năng quan trọng là khuyên khích mọi cố gắng để hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo. Vấn đề giám sát và kiểm định đào tạo đế công nhận ngày càng được chú ý vì khu vực giáo dục ngoài công lập ở nhiều nước đang được mở rộng để thoả mãn nhu cầu đối với giáo dục đại học. Như trên đã đê cập, sự phát triển nhanh của khu vực giáo dục đại học dân lập đòi hỏi Nhà nước cần có một chính sách đối xử bình đẳng giữa khu vực công lập và ngoài công lập, đồng thời phải quan tâm giám sát về chất lượng và tính hợp lý của các chương trình đào tạo. Cơ chê giám sát đúng hay không đúng sẽ làm cho giáo dục đại học ngoài công lập phát triển hay suy thoái, bảo đảm chất lượng hay giảm sút chất lượng. Nếu thực hiện cơ chê giám sát hỢp lý sẽ mở đường cho khu vực ngoài công lập phát triển, bảo đảm khai thác được mọi tiềm năng và nguồn lực vào phát triển, tạo ra động lực thúc đẩy các trưòng dân lập và đội ngũ cán bộ cơ hữu ở đó năng động và sáng tạo trong quá trình đào tạo đại hoc dân lập, từ đó phát triên giáo dục đại học nói chung. Cơ chê là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”*''. Từ đó, cơ chê giám sát được hiểu là cách thức theo đó quá Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb. Đà Nẳng và Trung tâm từ điển học, Hà Nội 2002, 111 1. Phát triển nguồn nhân lực Nhu cầu cấp thiết trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH được quan niệm là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao và tạo ra những biến đổi về chất trong toàn bộ các hoạt động của đời sống xã hội trước hết là hoạt động sản xuất vật chất. Đó là quá trình sử dụng năng lực, kinh nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc để đổi mới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh, hiện đại. Ngày nay, công cuộc CNH, HĐH đã trở thành tất yếu của sự phát triển, là làn sóng mạnh mẽ tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới cũng như mọi mặt của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII 7-1994 đã thông qua đường lối CNH, HĐH đất nước. Đảng ta xác định Trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng XHCN, CNH, HĐH là phương tiện, phương thức để đạt đến mục tiêu vì cuộc sống hạnh phúc ngày càng tốt đẹp, vì sự giải phóng và phát triển toàn diện của con người. Hiện nay, CNH, HĐH được xác định là nhiệm vụ trung tâm, quan trọng nhất của toàn Đảng, toàn dân; là con đường duy nhất để “rút ngắn” quá trình phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với các nước trên thế giới. Là một nước còn nghèo với kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, CNH, HĐH đối với Việt Nam là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Theo lý luận về “Hệ thống sản xuất lấy con người làm trung tâm” thì nguồn lao động luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội[1]. Nguồn lực quý báu, quan trọng nhất, quyết định sự phát triển và phồn thịnh của các quốc gia, cộng đồng trên thế giới không còn là nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà là “nguồn nhân lực” với phẩm chất, tầm nhìn, kiến thức, kỹ năng cao. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng dân số, do đó phát triển nguồn nhân lực thực chất là liên quan tới cả hai khía cạnh trên. Tuy nhiên, hiện nay đối với thế giới và đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thì vấn đề nổi lên gay gắt là chất lượng dân số. Do đó, các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực trong những thập niên gần đây chủ yếu tập trung vào nguồn nhân lực, tức chủ yếu tập trung vào vốn nhân lực được hiểu là lực lượng lao động có kỹ năng [2]. Đặc biệt, nguồn nhân lực chất lượng cao NNLCLC được xem là nguồn lực chính, nhân tố quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế -xã hội và quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác[3]. Tài nguyên trên thế giới ngày càng cạn kiệt, còn tri thức và sức sáng tạo của con người là vô hạn. Con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế -xã hội, là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển thần kì. Tri thức - sản phẩm trí tuệ của con người được xem là nguồn tài nguyên lớn và quý báu nhất của nền kinh tế tri thức, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững và là yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của quốc gia. Hiền tài, nhân tài và lao động trí thức đã trở thành một lực lượng sản xuất mới, giữ vai trò quyết định hơn cả vốn và tài nguyên. Nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, nhà tương lai Mỹ Avill Toffer cho rằng “tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên” [4]. Vì vậy, con người được xem là một “tài nguyên đặc biệt” và nguồn lực của sự phát triển và “phát triển tài nguyên con người” Human resources development trở thành vấn đề quan trọng nhất trong phát triển, vừa có tính chất “mục đích” vừa có tính chất “phương tiện”. Theo GS. Thurow [5] thì “sự khác biệt nhất trong cạnh tranh kinh tế trước đây và thời đại ngày nay là ở chỗ con người đang tạo ra lợi thế cạnh tranh. Vũ khí cạnh tranh quyết định ở trong thế kỷ XXI là giáo dục và kỹ năng của người lao động” [6]. Truyền thống Việt Nam cũng đã xác định “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” từ thực tiễn diễn ra trong lịch sử đương thời, Thân Nhân Trung đã có câu nói bất hủ khi viết bài ký Đề tên Tiến sĩ Khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại bảo thứ 3 1442 "...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...". Lời văn bất hủ của Danh sĩ Thân Nhân Trung từ hơn nửa thiên niên kỷ trước vẫn còn giá trị to lớn với chúng ta hôm nay và mai sau. Trong xu thế phát triển nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là NNLCLC ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản 1 Áp dụng công nghệ mới, 2 Phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và 3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là NNLCLC - tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” the human capital. Giữa nguồn lực con người NLCN, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, KHCN…có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội [7]. Lực lượng nhà khoa học và quản lý trình độ cao là nguồn tài nguyên nhân lực chủ chốt cho phát triển kinh tế tri thức và cạnh tranh mỗi quốc gia. Chiến lược CNH, HĐH đất nước cần dựa vào sự dẫn dắt, thực hiện của các nhà khoa học và quản lý trình độ cao. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNLCLC, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, môi trường chính trị - xã hội ổn định. Mặt khác, các quốc gia có thể khắc phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thông qua con đường chuyển giao, nhập khẩu nhưng không thể nhập khẩu hay vay mượn được khả năng sáng tạo của con người. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia phát triển và mới nổi đều chú trọng thu hút, đào tạo, đãi ngộ nhân lực khoa học và quản lý trình độ cao. Là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH nên phát triển nguồn nhân lực được xem là một yếu tố có tính chiến lược then chốt nhất cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và CNH, HĐH nói riêng. Quá trình CNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp là do quy định của nhiều yếu tố, trong đó, trước hết và chủ yếu tùy thuộc vào năng lực của con người, vào chất lượng của NLCN. Phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực và đầu tư, chăm lo cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững, bảo đảm sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia và là chìa khóa của sự phát triển bền vững. Nhật Bản là một thí dụ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, nước Nhật bị tàn phá, khó khăn, thiếu thốn đủ thứ, kinh tế kiệt quệ, khoảng 80 vạn người dân thiếu gạo ăn khoai, sắn.... Nhưng sau đó kinh tế Nhật Bản phục hồi nhanh chóng 1945 –1654 và phát triển với tốc độ thần kỳ 1954 –1973, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ. Đó chính là kết quả của việc phát huy tối đa vai trò nguồn lực trong sự phát triển đất nước. Bài học kinh nghiệm rút ra từ những thành công trong quá trình phát triển của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới NICs ở châu Á cho thấy người ta không chỉ chú trọng ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới hoặc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, mà vấn đề then chốt hơn cả là biết khơi dậy và phát huy năng lực trí tuệ và sức sáng tạo to lớn của con người. Vì vậy, để thực hiện thành công CNH, HĐH và hội nhập quốc tế HNQT, cần phát triển nhanh NNLCLC, nhất là nguồn nhân lực đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Đào tạo và phát triển NNLCLC đang là một trong những vấn đề trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó giáo dục và đào tạo đóng vai trò chủ yếu. Phát triển NNLCLC có nghĩa là xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; xây dựng đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có khả năng tổ chức, khả năng cạnh tranh; xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ; xây dựng sự nghiệp giáo dục tiên tiến, hiện đại và một xã hội học tập toàn diện để tạo NNLCLC. Trọng tâm của đào tạo nhân lực phục vụ CNH, HĐH trước mắt là đào tạo khả năng về công nghệ, là “áp dụng công nghệ để tạo nên sự giàu có" kể cả “quản lý công nghệ”. 2. Giáo dục đại học trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Lịch sử nhân loại đã chỉ ra rằng, vào bất kỳ thời đại nào, ở bất cứ quốc gia nào muốn hưng thịnh đều phải lấy giáo dục làm trọng. Giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế -xã hội. Thế kỷ XXI là thế kỷ của tri thức, thông tin và giáo dục là chìa khóa để bước vào lâu đài tri thức vô tận của con người. Nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục trong việc tạo NNLCLC, các nước đều tăng cường sức mạnh cho giáo dục để tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế. Ở các nước phát triển, mô hình đại học nghiên cứu đã phát triển đến mức độ cao, gắn với hoạt động sáng nghiệp. Đại học vừa là các đầu tàu về tri thức, vừa là nền tảng văn hóa của xã hội; và đào tạo, phát triển NNLCLC thông qua giáo dục đại học GDDH được xem là quy luật tất yếu trong thời đại ngày nay. GDDH có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Kinh nghiệm chỉ ra rằng giáo dục đào tạo và CNH, HĐH có quan hệ chặt chẽ với nhau; thậm chí giáo dục đào tạo là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ và thành công của sự nghiệp CNH, HĐH. “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[8]. Thực tiễn những nước đi trước về CNH, HĐH cũng chỉ ra rằng xã hội muốn đạt tới trình độ phát triển mới và cao hơn thì tất yếu phải dựa trên sự phát triển tương ứng về mặt giáo dục. Giáo dục và đào tạo vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa có ý nghĩa trực tiếp đối với sự thành công của CNH, HĐH và CNH, HĐH với những thành tựu của nó lại tác động trở lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiện đại hóa giáo dục và đào tạo [9]. Vì vậy, phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những nội dung quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và CNH, HĐH tạo điều kiện cho giáo dục và đào tạo phát triển theo hướng hiện đại. Là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đầu tư cho giáo dục phải được xem là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển; đồng thời, giáo dục phải đi trước, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế -xã hội đất nước. Đào tạo NLCN, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ, lực lượng trí thức có đủ phẩm chất và tài năng bắt kịp trình độ phát triển của thế giới là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn, là vấn đề có tầm chiến lược và quyết định tương lai của đất nước. Vì vậy, công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá, tăng tốc mạnh mẽ trong thời gian tới. Thomas cho rằng, giáo dục là mệnh lệnh kinh tế và chính trị ở Việt Nam Ở "mệnh lệnh kinh tế" giáo dục là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và giúp giải thích tại sao các nền kinh tế này duy trì được tốc độ tăng trưởng cao khi hầu hết các nước đang phát triển tăng trưởng chậm lại. Ở "mệnh lệnh chính trị", giáo dục là khát vọng của con người Việt Nam[10]. Nhiệm vụ trực tiếp là phải tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ. Ngày nay, GDĐH là con đường tất yếu góp phần quyết định vào phát triển đất nước. Trường đại học được giao chức năng quan trọng là sáng tạo, chuyển giao tri thức, bảo tồn và phát triển văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực cao cho xã hội; trường đại học luôn mang trên mình những nhiệm vụ cao cả 1 Là nơi truyền đạt kiến thức khoa học, tri thức, văn hóa của loài người, những tri thức của xã hội, đất nước; không chỉ truyền đạt tri thức của quá khứ mà còn là tri thức của hiện tại và cả tương lai. Tri thức do chính trường đại học sáng tạo, phát triển và bổ sung. 2 Là nơi dạy cho sinh viên biết tư duy khoa học, biết phản biện, luôn khám phá, và đi đến tận cùng, mãi mãi của cái huyền bí khám phá khoa học. 3 Là nơi tạo môi trường và giúp người sinh viên tự rèn luyện để trở thành những công dân trí thức, nhận thức một cách rõ ràng trách nhiệm trước bản thân, gia đình, xã hội và đất nước Phan Thanh Bình, Giám đốc ĐHQG-HCM. Là trung tâm khoa học và đào tạo, nơi lưu trữ, sáng tạo và truyền bá tri thức, nơi đào tạo ra không chỉ là những người công dân, những người lao động có tri thức mà còn có nhiệm vụ cao hơn, là nơi chuẩn bị đội ngũ lãnh đạo tương lai cho đất nước. Là một lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao để cung cấp cho xã hội, GDDH được ưu tiên ở hầu hết các nước trên thế giới. Vươn tới những chuẩn mực quốc tế trong đào tạo và NCKH, đồng thời đào tạo NNLCLC để chủ động HNQT và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là sứ mệnh, là trách nhiệm lớn lao của các trường đại học. Vì vậy, các quốc gia phát triển nhanh đều có các trường trụ cột đại học, các chính phủ đều chú trọng đầu tư phát triển của GDĐH. Đặc biệt, trong các loại trường đại học nghiên cứu, ứng dụng và thực hành thì trường đại học nghiên cứu có vai trò đặc biệt trong việc duy trì sự ưu tú, tạo ra những kiến thức mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới nhằm dẫn dắt tiến bộ xã hội cũng như thúc đẩy sự giàu mạnh của quốc gia. Các trường đại học “tinh hoa mới” là cách nói khác của các trường đại học nghiên cứu hàng đầu của mỗi quốc gia, đào tạo nguồn nhân lực tài năng, chất lượng cao, nghiên cứu khoa học đỉnh cao, đóng vai trò hoa tiêu, dẫn đầu, tiên phong và trụ cột của nền GDĐH của đất nước hội nhập và cạnh tranh, phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa. Để thực hiện được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Việt Nam đang tiếp tục đổi mới sâu rộng và đồng bộ hơn; tập trung ưu tiên tái cấu trúc nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh và bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH, chủ động và tích cực HNQT. Tình hình trên đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo những yêu cầu mới, vẻ vang nhưng cũng nặng nề hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển NNLCLC và nền khoa học công nghệ tiên tiến. Hiện nay, nước ta đang triển khai thực hiện Cương lĩnh của Đảng, các Nghị quyết số 20/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 29/NQ-TW về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo. Việc Đảng và Nhà nước đã chọn việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC gắn kết với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một trong ba khâu đột phá chiến lược đã giao trách nhiệm và là cơ hội phát triển cho các trường đại học nghiên cứu cũng như hệ thống GDĐH Việt Nam. Sơ đồ quy trình đào tạo và quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học[11] TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết về phát triển khoa học và công nghệ Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Bổ sung, phát triển năm 2011. 4. Nguyễn Phương Nga - Nguyễn Quý Thanh đồng chủ biên, Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan Giáo dục đại học Một thành tố của chất lượng, Nxb. ĐHQGHN, 2007. 5. Thomas Hai "mệnh lệnh" của giáo dục đại học [1] William Petty Nhà kinh tế học người Anh cho rằng “Lao động là cha, đất đai là mẹ” của mọi của cải vật chất. cho rằng con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất. [2] Đôi khi các khái niệm “vốn nhân lực”, “nguồn vốn nhân lực” và “nhân lực” được dùng thay thế cho nhau. Phát triển nguồn nhân lực là một khái niệm rộng, liên quan đến quá trình nâng cao và khuyến khích đóng góp năng lực của người lao động cho quá trình sản xuất và định hướng chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực là nâng cao trình độ chuyên môn và sử dụng hiệu quả nguồn lực đó. [3] Để chỉ NNLCLC, các tạp chí nghiên cứu về giáo dục, đào tạo và kinh tế thường sử dụng khái niệm lao động có kỹ năng cao High skill labours hoặc lao động chất lượng cao High quality labours. [4] Avill Toffer Power Shift Thăng trầm quyền lực [5] Lester Thurow Carl sinh ngày 7-5-1938 tại Livingston, Montana là giáo sư Kinh tế học người Mỹ, cựu hiệu trưởng của MIT Sloan School of Management, tác giả của nhiều cuốn sách về chủ đề kinh tế. [6] Nguyễn Phương Nga - Nguyễn Quý Thanh đồng chủ biên, Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan Giáo dục đại học Một thành tố của chất lượng, Nxb. ĐHQGHN, 2007, [7] Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiện 1 Có đường lối kinh tế đúng đắn. 2 Biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó. 3 Có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo. 4 Có đội ngũ các nhà doanh nhân giỏi. [8] Đảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Bổ sung, phát triển năm 2011. [9] Như các trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho việc dạy học giúp cho giáo dục và đào tạo tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng chính yêu cầu của CNH, HĐH. [10]. Thomas Hai "mệnh lệnh" của giáo dục đại học [11] Nguyễn Phương Nga - Nguyễn Quý Thanh đồng chủ biên, Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan Giáo dục đại học Một thành tố của chất lượng, Nxb. ĐHQGHN, 2007,

xã hội hóa giáo dục đại học